- Vị trí sinh trưởng và phát triển:
Dãy núi Ngọc Linh nằm ở tọa độ khoảng 14°44’–15°13’ vĩ Bắc và 107°45’–108°10’ kinh Đông, có độ cao trung bình 1.200–2.500 m. Đây là vùng địa hình phân cắt mạnh, nhiều thung lũng sâu, độ dốc lớn, được bao phủ bởi rừng nguyên sinh tán che trên 70%. Sâm Ngọc Linh phân bố chủ yếu ở các xã Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang… (Nam Trà My – Quảng Nam) và Ngọc Linh, Mường Hoong, Măng Ri, Tê Xăng… (Tu Mơ Rông, Đăk Glei – Kon Tum).
Năm 2016, lần đầu tiên Bộ Khoa học - Công nghệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý sản phẩm sâm củ Ngọc Linh tại khu vực địa lý các xã Măng Ri, Ngọc Lây, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum và xã Trà Linh huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Đến năm 2018, Bộ Khoa học - Công nghệ ra quyết định mới thay thế và sửa đổi, bổ sung thêm vùng chỉ dẫn địa lý cho quyết định đã cấp năm 2016. Cụ thể, tỉnh Kon Tum có 9 xã, gồm 3 xã Mường Hoong, Ngọc Linh, Xốp (huyện Đắk Glei) và 6 xã Đắk Na, Măng Ri, Ngọc Lây, Ngọc Yêu, Văn Xuôi và Tê Xăng (huyện Tu Mơ Rông). Tỉnh Quảng Nam có 7 xã, gồm Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang, Trà Dơn, Trà Don, Trà Leng, Trà Tập của huyện Nam Trà My.Dự kiến năm 2025, Chương trình Phát triển Tài sản Trí tuệ giai đoạn 2021-2030 của tỉnh Kon Tum, phạm vi mở rộng bảo hộ bao gồm các xã: Tu Mơ Rông, Đăk Hà, Đăk Sao, Đăk Rơ Ông (huyện Tu Mơ Rông); Đăk Man (ngoại trừ các tiểu khu 16, 17, 18, 20, 22, 25 và một phần các tiểu khu 19, 21, 23, 24), Đăk Plô, Đăk Nhoong, Đăk Choong (ngoại trừ các tiểu khu 59, 60, 65 và một phần các tiểu khu 19, 21, 23, 24) thuộc huyện Đăk Glei; các xã Đăk Tăng, Măng Bút (huyện Kon Plông) và Đăk Kôi (huyện Kon Rẫy).
Chất lượng đặc thù của sản phẩm sâm Ngọc Linh nổi tiếng chính là nhờ các điều kiện tự nhiên độc đáo của khu vực địa lý thuộc khối núi Ngọc Linh, độ cao từ 1800m đến 2500m, có độ phân cách mạnh, độ dốc lớn, có nhiều thung lũng hẹp và sâu. Các yếu tố về khí hậu của khu vực địa lý rất thích hợp cho sự phát triển của sản phẩm: tổng lượng mưa trung bình cả năm từ 2800mm – 3400mm, tập trung vào thời gian từ tháng Sáu đến tháng Chín.
Tổng lượng nhiệt cả năm dưới 7500oC. Nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 14 - 18oC. Tháng Một và tháng Mười Hai có nhiệt độ thấp, trung bình khoảng 8-11oC, tháng Tư và Tháng Năm có nhiệt độ cao, trung bình khoảng 20-23oC. Biên độ nhiệt ngày đêm của khu vực địa lý từ 8-9oC. Độ ẩm trung bình năm từ 85,5-87,5%, tháng cao nhất (Tháng Tám) đạt 94-95%. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm từ 670-770mm. Khu vực địa lý có thảm thực vật là rừng nguyên sinh của hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum gồm các cây lá rộng thường xanh, tre nứa và lá kim.
Khu vực địa lý có duy nhất nhóm đất xám, hình thành tại chỗ, phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau. Thành phần cơ giới của đất là từ thịt pha cát đến thịt pha sét và cát. Cấp hạt cát từ 55,1-67,0%. Cấp hạt thịt từ 7,1-17,6%. Sét từ 20,0-33,3%. Độ ẩm đất từ 15,8-20,6%. Các loại đất đều chua pHH2O từ 3,7-4,3; pHKCL khoảng 3,0-3,7. Dung tích hấp thu CEC ở mức trung bình, từ 7,14-12,86 meq/100g đất, tổng các Cation kiềm trao đổi ở mức thấp, từ 0,85-1,85 meq/100g. Đất có hàm lượng cacbon hữu cơ, đạm tổng số ở mức rất cao. Độ chua trao đổi từ 0,30 – 1,39 meq/100g đất.
2. Mô tả:
Sâm Ngọc Linh thuộc loài thân thảo, sống nhiều năm, cao 0,5 – 0,8 m.
Thân rễ dày, mập, thường nằm ngang gồm nhiều đốt ngắn, mỗi đốt có 1 vết sẹo lõm do thân khí sinh lụi hàng năm để lại, các đốt mọc chéo, đôi khi ở một số cây phần cuối thân rễ có một củ dạng con quay gần hình cầu đường kính có thể đến 5 cm; rễ nhỏ mọc xung quanh thân rễ.
Thân trên mặt đất thường là 1 hoặc có thể 2 – 4 thân ở những cây sống lâu năm, thân hướng thẳng đứng, không phân nhánh, nhẵn, gốc có vảy mỏng, lõi thân xốp.
Lá mọc vòng ở đỉnh thân, thường 3 – 5 lá; gốc cuống lá không có lá kèm; lá kép chân vịt có 5 (ít khi 3 hoặc 6 – 7) lá chét, hai lá chét ngoài cùng thường có kích thước nhỏ hơn; lá chét nguyên, mép lá có răng cưa; phiến lá hình trứng, trứng ngược, elip hoặc thuôn, mỏng, hai mặt màu xanh, mũi lá có đuôi nhọn, gốc lá hình nêm, hẹp dài hoặc lệch, gân lá có lông cứng ở hai mặt.
Cụm hoa thường mang một tán đơn độc ở đỉnh hoặc đôi khi có tán phụ; cuống hoa dài hơn cuống lá; cụm hoa gồm từ 80- 140 hoa, lá bắc nhỏ hình dùi, dài 2 – 3 mm; cuống hoa nhỏ được bao phủ bởi nhiều mấu nhỏ dạng gai thịt dài 0,04 – 0,08 mm. Hoa lưỡng tính, tỏa tròn, đường kính 2,0 – 3,5 mm, đài có 5 răng nhỏ dạng tam giác, nhẵn; cánh hoa 5, màu xanh hoặc xanh mép hơi trắng, nhẵn, nhị 5, chỉ nhị mảnh, dài bằng hoặc dài vượt quá cánh hoa, bao phấn 2 ô, đính lưng; đĩa hoa phẳng hoặc hơi lồi, có vòng tím đến tím hoàn toàn hoặc màu xanh hơi ngà vàng; bầu thường tiêu giảm còn 1 ô, đôi khi là 2 ô, mỗi ô 1 noãn, vòi nhụy hợp hoặc xẻ 2 tùy theo số ô của bầu.
Quả hạch hình thận hoặc gần cầu, dẹt; khi chín màu đỏ, thường có đốm đen ở đỉnh quả, đốm đen có diện tích nhỏ. Hạt dẹt, số hạt bằng số ô của bầu, vỏ hạt thô cứng nhiều vệt xốp lồi lõm, nội nhũ trơn.
Mùa ra hoa tháng 4 – 5, mùa quả tháng 7 – 9.
Sâm Ngọc Linh khi thái ra thường có màu vàng tại phần thân củ dưới, và tím vàng ở phần thân trên. Vị đắng lúc mới cho vào khoang miệng, bắt đầu ngọt dần tại cổ họng và sẽ lưu lại vị ngọt tại khoang miệng sau quá trình sử dụng.
3. Các hoạt chất có trong sâm Ngọc Linh:
PHẦN THÂN RỄ VÀ RỄ CỦ:
3.1. Saponin (phần dưới mặt đất – thân rễ và rễ củ - TR&RC)
- Năm 1976, J. Lutomski & Nguyễn Thới Nhâm công bố sơ bộ 8/13 hợp chất saponin tương ứng với ginsenosid của sâm Triều Tiên.
- Từ 1978–1990: Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự phân lập 11 saponin với các chất chính: MR2, GRg1 và GRb1.
- 1993–1999: Nguyễn Minh Đức và cộng sự xác định 49 saponin, trong đó 24 hợp chất mới, đặt tên vinaginsenosid-R1 đến R24.
- 2001: Trần Lê Quan phân lập 10 saponin, gồm 2 saponin mới (20-O-Me-G-Rh1, vina-ginsenosid-R25) và 8 đã biết (M-R2, P-RT4, V-R1, V-R2, V-R10, G-Rg1, G-Rh1 và G-Rh4) và một genin là protopanaxatriol oxid II.
- Tổng cộng: 53 hợp chất saponin được phân lập:
- 26 saponin đã biết chủ yếu thuộc nhóm dammaran
- Nhóm ppd (11 hợp chất): G-Rb1(2,0%), G-Rd, G-Rb3
- Nhóm ppt (9 hợp chất): G- Rg1(1,4 %), G-Re, N-R1
- Nhóm ocotillol (4 hợp chất): M-R1, (5,29 %), M-R1
- Nhóm olean (2 hợp chất): G-Ro, hemslosid-Ma3
- 26 saponin mới (vina-ginsenosid R1–R25, 20-OMe-G-Rh1).
- 1 sapogenin: Protopanaxatriol oxid II.
- 26 saponin đã biết chủ yếu thuộc nhóm dammaran
- Các saponin dammaran được xem là hoạt chất quyết định cho các tác dụng sinh học có giá trị của sâm Triều Tiên cũng chiếm một tỉ lệ rất cao về hàm lượng và số lượng trong thành phần hợp chất saponin của sâm Ngọc Linh (50/52 saponin được phân lập). Trong đó các saponin dẫn chất của 20 (S)-protopanaxadiol gồm 22 hợp chất với các đại diện chính là: Ginsenoside-Rb1, -Rb3, -Rd. Các saponin dẫn chất của 20(S)-protopanaxatriol gồm 17 hợp chất với các đại diện chính là: Ginsenoside-Re, -Rg1, notoginsenosid-R1. Các saponin có cấu trúc ocotillol gồm 11 hợp chất với các đại diện chính là: Majonoside-R1 và -R2. Đặc biệt M-R2 chiếm gần 50% hàm lượng saponin toàn phần từ phần dưới mặt đất của sâm Ngọc Linh và trở thành 1 hợp chất chủ yếu của sâm Ngọc Linh so với thành phần saponin trong các loài sâm khác trên thế giới và gấp 48 lần hiệu suất chiết được từ Đại diệp tam thất (Panax japonicum C.A. Mey. var. major (Burk.) C.Y.Wu et K.M.Feng). Hai saponin dẫn chất của acid oleanolic chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp với hemslosid -Ma3 được phát hiện đầu tiên trong một loài Panax thuộc họ nhân sâm.
Khối lượng củ sâm tươi đã có sự phát triển tăng lên do quy trình trồng được cải thiện, với trọng lượng củ trung bình ở độ tuổi 7-8 năm là 40gr-70gr.
So sánh hàm lượng saponin (%) ở phần dưới mặt đất (thân rễ, rễ củ) của Sâm Ngọc Linh so với các loài sâm khác
| Nhóm chất | Hàm lượng saponin thành phần (%) | |||
| Nhân sâm (P.ginseng) | Tam thất (P.notoginseng) | Sâm Mỹ (P.quinquefolium) | Sâm Ngọc Linh (P.vietnamensis) | |
| 20(S)-ppd | 2.9 | 2.1 | 2.7 | 3.1 |
| 20(S)-ppt | 0.6 | 2.4 | 1.2 | 2.0 |
| Ocotillol | - | - | 0.04 | 5.6 |
| Acid oleanolic | 0.02 | - | 0.07 | 0.09 |
| Hàm lượng saponin tổng (%) | 3.5 | 4.5 | 3.94 | 10.7 |
- 7 hợp chất polyacetylen phân lập từ phân đoạn ít phân cực của thân rễ và rễ củ:
- Panaxynol
- Heptadeca-1,8(E)-dien-4,6-diyn-3,10-diol
- 2 hợp chất mới:
- 10-acetoxy-heptadeca-8(E)-en-4,6-diyn-3-ol
- heptadeca-1,8(E),10(E)-trien-4,6-diyn-3,10-idol
- 14 hợp chất thuộc các nhóm:
- Phytosterol: Daucosterol, Stigmasterol, β–Sitosterol
- Flavonoid: Astragalin, Trifolin
- Maltol: Dianthosid (maltol-O-glucosid)
- Acid acylquinic: Acid 3-O-caffeoylquinic, Acid 5-O-caffeoylquinic, Acid 3-O-feruloylquinic , Acid 5-O-feruloylquinic, Acid 3-O-feruloyl-5-O-caffeoylquinic, Acid 3,4-di-O-feruloylquinic, Acid 3,5-di-O-feruloylquinic, Acid 4,5-di-O-feruloylquinic.
- 78 hợp chất như:
- 2-Methyl-1-propanol, β-Curcuben, α-Guaien, aromadendren...
- Các acid béo: linoleic, linolenic, palmetic, stearic, oleic.
- 18 acid amin được xác định, trong đó có 8 loại thiết yếu. Các acid amin chiếm tỷ lệ cao.
- Arginin (46,66%)
- Lysin (17,90%)
- Tryptophan (10,20%)
- 5 acid béo quan trọng có trong Sâm Việt Nam (SNL) được tìm thấy như acid linoleic, acid linolenic, acid palmetic, acid stearic, acid oleic.
Các nghiên cứu gần đây (Võ Duy Huấn et al., 2001; Tôn Thất Quang et al., 2022) đã phát hiện.
Saponin ở phần trên mặt đất (Lá & Cọng thân - L&CT)
- Võ Duy Huấn và cộng sự (2001): phân lập 19 saponin dammaran:
- 11 hợp chất đã biết, trong đó:
- Nhóm PPD (6 hợp chất): N-Fc, G-Rb3, N-Fe...
- Nhóm ppt (3 hợp chất): N-Fc (0,34%), G-Rb3 (0,16%), N-Fe (0,13%), VG-L2 (0,11%)
- Nhóm ocotillol (2 hợp chất): VG-R1 (0,16%)
- 8 saponin mới: vina-ginsenosid L1 – L8
- 11 hợp chất đã biết, trong đó:
- Tôn Thất Quang và cộng sự (2022): tiếp tục phát hiện thêm 18 saponin, trong đó có MR2 và VG-R2.
- 21 hợp chất khác ngoài saponin bao gồm các hợp chất polyacetylen, phytosteroid, coumarin, acid phenolic, nucleotid, alkaloid, sesquiterpen lacton.
- Trong đó:
- Panaxidol là một alkaloid mới trong tự nhiên
- Panaxolid là một sesquiterpene lacton mới trong tự nhiên.
5. Tác dụng của Sâm Ngọc Linh:
5.1: Phần thân rễ và rễ củ:- Tăng lực, chống mệt mỏi
- Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương tùy theo liều sử dụng (liều thấp kích thích và liều cao ức chế): tác dụng kích thích tâm thần vận động, chống trầm cảm, chống mệt mỏi, giải lo âu và tăng cường trí nhớ.
- Phục hồi hoạt động não bộ: qua tác dụng rút ngắn tiềm thời thành lập phản xạ có điều kiện và rút ngắn giai đoạn phục hồi phản xạ
- Tác dụng trên hệ tim mạch: tác động phòng chống xơ vữa động mạch ở liều 50-500 mg/kg theo cơ chế hạ cholesterol, hạ lipid toàn phần và lipoprotein, tăng hàm lượng HDL có lợi (lipoprotein có nhiệm vụ vận chuyển cholesterol vào nội bào) hoặc tác động điều hòa hoạt động tim mạch, theo hướng kích thích dẫn truyền xung động thần kinh tim, nâng cao huyết áp trong các trường hợp hạ áp trên mô hình gây mất máu.
- Tác dụng kháng ung thư và kích thích miễn dịch.
- Tác dụng bảo vệ gan: Stress oxy hóa là một trong những cơ chế gây bệnh lý gan, như viêm gan do rượu, viêm gan nhiễm mỡ, xơ gan cũng như liên quan đến tổn thương gan do dược phẩm (thuốc kháng viêm, giảm đau, thuốc điều trị ung thư và thuốc chống trầm cảm). Tác dụng bảo vệ gan theo hướng chống oxy hóa. Sâm Ngọc Linh hỗ trợ sự tái tạo tế bào gan, duy trì chức năng sinh hóa của gan, ức chế sự gia tăng các transaminase SGOT, SGPT và kích thích hoạt động của hệ thống cytocrom-P450 trong ty thể gan.
- Tác dụng kháng oxy hóa: Stress oxy hóa là căn nguyên của một số loại bệnh như thoái hóa thần kinh, bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư và hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cải thiện stress oxy hóa từ các chất chống oxy hóa là một chiến lược quan trọng mang lại hiệu quả điều trị các bệnh khác nhau.
- Tác dụng bảo vệ thận: Sâm Ngọc Linh có khả năng làm giảm đáng kể tác động gây độc thận của cisplatin,
- Tác dụng tăng cường miễn dịch: Hệ thống miễn dịch phản ứng với stress thông qua nhiều cơ chế khác nhau có thể mang lại cả kết quả có lợi và có hại, tùy thuộc vào thời gian và cường độ của tác nhân gây stress. Stress mạn tính làm giảm đáng kể hoạt động của tế bào miễn dịch và chức năng miễn dịch tổng thể.
- Tăng cường khả năng sinh lý, phòng chống xơ vữa động mạch: (thực nghiệm Triton WR-1339) theo cơ chế giảm cholesterol huyết, giảm lipid toàn phần và lipoprotein, tăng hàm lượng HDL-cholesterol.
- Tác dụng phục hồi hoạt động não bộ: qua tác dụng rút ngắn tiềm thời thành lập phản xạ có điều kiện và rút ngắn giai đoạn phục hồi phản xạ.
- Tác dụng hiệp lực của Sâm Ngọc Linh với các thuốc trị đái tháo đường: tác dụng hiệp lực với sulfamid hạ đường huyết (DiabineseÒ) và insulin, kéo dài thời gian có tác dụng hạ đường huyết của insulin 2-3 giờ hơn so với chỉ dùng insulin.
- Tác dụng chống stress: đặc hiệu hơn Nhân sâm qua việc điều chỉnh về bình thường các rối loạn về hành vi (freezing behavior), giấc ngủ, lo âu, trầm cảm, loét dạ dày gây bởi stress.
- Tác dụng kháng khuẩn đặc hiệu trên các chủng vi khuẩn gây bệnh viêm họng Staphylococcus và Streptococcus: Tác dụng kháng khuẩn của Sâm Ngọc Linh tương đương với một số kháng sinh thông dụng và không gây ảnh hưởng trên hệ vi khuẩn lành tính ở ruột như các kháng sinh.
- Tác dụng nội tiết tố sinh dục (tác dụng kiểu androgen và tác dụng kiểu estrogen)
5.1: Phần lá và cọng thân:
- Tác dụng tăng lực, chống nhược sức.
- Thể hiện tác động trên hệ thần kinh TW tùy theo liều sử dụng (liều thấp kích thích và liều cao ức chế), có tác dụng cải thiện nhận thức, trí nhớ (thực nghiệm step-down phối hợp với gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamine.
- Tác dụng phục hồi về bình thường thời gian ngủ bị rút ngắn bởi stress.
- Có tác dụng giải lo âu, chống trầm cảm (thực nghiệm stress tâm lý).
- Có tác dụng bảo vệ gan theo hướng chống oxy hóa trên thực nghiệm gây tổn thương gan bằng CCl4.
Sâm Ngọc Linh được phát hiên tại vùng núi Ngọc Linh, Việt Nam, vào năm 1973 và đã được TS. Hà Thi Dụng và TS. Grushvitsky mô tả năm 1985 là Panax vietnamensis Ha & Grushv.
Sâm Ngọc Linh là một loài thảo mộc bản địa tại dãy Ngọc Linh, trải qua quá trình từ năm 1978 đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu và các công tác bảo tồn, phát triển để có thể giữ gìn và nâng cao giá trị của một loài thảo mộc Quốc Bảo của Việt Nam.
🇻🇳VINNATE - BRING NATURE INTO YOUR HOME. ⛰️Phát triển những sản phẩm thuần Việt, dựa trên giá trị nền tảng của các loài thảo mộc và nông sản Việt, dưới sự sáng tạo của trí tuệ nghệ nhân Việt, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt. 🏠Địa chỉ: Xã Ngọc Linh - Huyện Đắk Glei - Tỉnh Kon Tum. 🏭Địa chỉ sản xuất: Xã Đắk Kroong - Huyện Đắk Glei - TỈnh Kon Tum. 📲Hotline tư vấn/Zalo: 0965595698 🌐Website: https://vinnate.com.vn - https://hongdangsam.com #NgọcLinh_ĐắkGlei_KonTum. #VinnateVietNam Tài liệu tham khảo:
- CÁC NHÓM HỢP CHẤT TRONG CÂY SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) VÀ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC PHẨM BẢO VỆ SỨC KHỎE VÀ DƯỢC PHẨM - GS.TS. Trần Công Luận.
- Nhận dạng các loài thuộc chi Panaxl ở Việt Nam - NHÓM TÁC GIẢ: PGS.TS. Phạm Thanh Huyền (Chủ biên),ThS. Phạm Thị Ngọc, ThS. Nguyễn Quỳnh Nga, ThS. Phan Văn Trưởng, ThS. Nguyễn Xuân Nam, PGS.TSKH. Nguyễn Minh Khởi.
- TÁC DỤNG DƯỢC LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA SÂM NGỌC LINH (PANAX VIETNAMENSIS HA & GRUSHV.): Trần Huyền Trân, Lê Văn Minh, Lý Hải Triều, Nguyễn Minh Khởi.
- Giá trị dược liệu và công dụng của sâm Ngọc Linh - GS.TS Trần Công Luận
- NÂNG CAO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA SÂM NGỌC LINH (PANAX VIETNAMENSIS HA ET GRUSHV., ARALIACEAE) QUA CÁC NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DƯỢC LÝ Dương Hồng Tố Quyên, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Minh Đức.
- THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA LÁ SÂM NGỌC LINH VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG - PGS. TS. Tôn Thất Quang