LỊCH SỬ NGÀNH SÂM VIỆT NAM
Trong lịch sử Việt Nam, việc sử dụng các loài thảo mộc vào trong các bài thuốc đã có từ lâu đời, tuy nhiên, quay lại chiều dài lịch sử, đất nước ta trải qua nhiều phen biến cố, ngành y học cũng không được ghi chép lại nhiều, tựu chung có hai dòng chính là y dược cổ truyền dân gian và y dược cổ truyền cung đình. Trong đó, y dược cổ truyền cung đình có thể coi là dòng y học cổ truyền phát triển với trình độ cao, với đỉnh cao là Thái Y Viện, nhiệm vụ chính là chăm sóc sức khỏe cho vua, chúa, hoàng gia, nội cung.
Bắt đầu từ triều Lý, với Thái Y Ty là tổ chức y tế tại Kinh Đô, chăm lo thuốc thang cho vua, hoàng gia. Lúc này, phương pháp chữa bệnh theo y dược cổ truyền vừa kết hợp việc cầu cúng bùa phép, do các thầy pháp (pháp sư) đảm trách.
Đến đời nhà Trần, y học cổ truyền cung đình đã có những thành tựu và gương mặt lớn. Cơ sở y tế cấp Trung Ương đã được nâng lên thành Viện – được đặt tên là Thái Y Viện, có nhiệm vụ chăm lo sức khỏe cho vua, hoàng gia, quan binh và quản lý y tế cả nước. Tại giai đoạn này, chính quyền đã có sự chú ý đến thuốc Nam, khi Phạm Ngũ Lão tổ chức trồng thuốc ở Phả Lại, nay là vườn thuốc Vạn An và Dược Sơn, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Hải Dương. Chính nhờ phát động phong trào này mà nhà Trần đã có thể chủ động được nguồn dược liệu trong chiến đấu trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông. Trong giai đoạn này, nổi lên tiêu biểu là thiền sư Tuệ Tĩnh, mặc dù không phải là thầy thuốc cung đình, nhưng sự nghiệp và y thư của ông là điểm son nổi bật của nền y học đời Trần, trong đó câu nói tiêu biểu “ Nam dược trị Nam nhân” không chỉ là triết lý chữa bệnh, mà còn là lời khẳng định và nhắn nhủ dành cho các thế hệ đi sau trong ngành dược học nước nhà. Trong hành trình của cuộc đời mình, ông đã để lại cho hậu nhân rất nhiều những cuốn kinh điển trong ngành y dược cổ truyền, trong đó có thể kể tới Hồng Nghĩa giác tư y thư, Nam Dược thần hiệu. Nhân sâm cũng đã được ông nhắc tới như trong đoạn: “Nguyên khí tổn thương bên trong, dùng Hoàng kỳ, Nhân sâm, Cam thảo làm chủ” hay bài Hồi Sinh Đơn…
Qua các triều đại, đã có nhiều những điển tích được ghi lại về việc sử dụng nhân sâm trong việc chữa bệnh, như tại Triều Lê có sách thuốc do Thái Y Viện biên soạn, với phần trên là ca Nôm, phần dưới là kê các bài thuốc, trong đó có thể kể đến bài Bổ trung ích khí thang: Trị nội thương hư tổn, nhọc mệt, tự ra mồ hôi và chứng phong lao (do dâm dục quá độ). Gồm: Hoàng kỳ, Nhân sâm, mỗi vị 1,5 đồng cân, Cam thảo 1 đồng cân, Trần bì, Đương quy, Bạch truật mỗi bị dều 8 phân, Thăng ma, Sài hồ mỗi vị 5 phân, Gừng 3 lát, Táo tàu 2 quả, sắc uống. Hay trong Thượng kinh ký sự với Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác khi chưã bệnh cho thế tử Trịnh Cán.
Đến thời nhà Nguyễn, các hoạt động về sâm được ghi chép một cách kỹ càng hơn, trong đó có cả việc sử dụng nhân sâm và sâm Hoa Kỳ. Việc sử dụng được nhắc đến trong bản tấu dâng Ngự dược lên vua Minh Mạng ngày 26 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 10 (1829), trong châu bản Thái Y Viện thời Minh Mạng.Trong đó có ý: “ Thân thể thánh thượng được khoan hòa, việc ăn uống như thường, nhưng chỉ có hơi mệt mỏi, ngủ ít. Lệnh sắc cho chúng thần điều chế thuốc tễ bổ để dâng lên Ngài. Chúng thần cùng họp lại hội ý, nghĩ rằng: (Qua tiết Đông chí) nhất dương sinh trưởng, mộc vận (khí tiết mùa xuân) bắt đầu vận hành, can hỏa khí dần mạnh lên, phần âm của Tỳ chưa đầy đủm nên dẫn đến các chứng nói trên. Căn cứ theo lý đó, nên dùng phép bình bổ, tư âm để phối dương, Thục địa bổ phần âm.”
Việc khai thác: Các tài liệu chưa thấy nói về Panax, đã có thấy nói về loài sâm Bố Chính ( Không thuộc loài Panax)
Theo Đại Nam thực lục: Năm Gia Long 18, 1819, “Lập đội Thái Sâm (lấy Sâm) ở tỉnh Quảng Ngãi. Các núi ở Sa Kì, sản nhiều Sâm, hạ lệnh cho trấn thần đặt đội lấy Sâm, mộ dân ngoại tịch, 50 người sung vào”. Tháng 10, vua trở bệnh, tháng 11 vua cho lập đội Thái Sâm và đến tháng 12 thì vua băng hà.
Theo Phủ Biên Tap Lục của Lê Quý Đôn:
Các vật sản quý nhất phần nhiều sản sinh ở phương Nam. Châu Bắc-Bố-Chính có 50 làng sản ra nhân sâm, yến sào, mật ong trắng, sáp ong vàng, sừng con tê, ngà voi, sừng bò tót, diêm tiêu, giáng hương, trầm hương, tốc hương, thiết đằng (rotin de fer), long đằng (rotin dragon), gỗ thiết lâm (gỗ lim), gỗ hòa hao, gỗ hoa nao (loupe), gỗ kiền kiền.
Các làng Phù-lưu, Tiên-lễ ở châu Bắc-Bố-Chính có thứ sâm, hoa nó có sắc tía, giồng nó ở trong chậu cát cũng sống được. Nếu phơi và sao đúng cách thức thì hình dáng không khác gì bắc sâm. Vị nó ngọt, dùng uống có bổ ích, nên người ta hay dùng.
Quy định về thuế quan:
Hộ Thái Sâm (Sâm hộ) ở Quảng Ngãi, nộp 3 cân/ người, ở Quảng Bình nộp 16 cân/ người.
Mua Sâm:
Năm Tự Đức 31 (1878), triều đình cử Bùi Văn Dị, Lâm Hành (Hoằng), Lê Cát sang Tàu mua Sâm Cao Ly. Trong thời gian đi mua xa, lâu ngày, việc liên lạc, thông tin vẫn phải được duy trì, để triểu đình nắm rõ tình trạng dược liệu.
Sâm Việt Nam – Panax Vietnamesis
Phát hiện và xác định loài:
Năm 1968: Các nhà thực vật học bước đầu ghi nhận 2 loài thuộc chi Panax là P. pseudoginseng Wallich – Tam Thất (ở biên giới phía bắc Việt Nam thuộc Hà Giang) và P. bipinnatifidus Seem – Sâm Vũ Diệp (dãy Hoàng Liên Sơn, Lào Cai).
Năm 1970: Phạm Hoàng Hộ ghi nhận sự có mặt của loài Sâm Nhật (P. schinseng Nees var. japonicum Mak.) mọc ở núi Lang Biang (Lâm Đồng)
Năm 1973: 19-3-1973, tại dãy núi Ngọc Linh, Đoàn Khu ủy khu 5 đã phát hiện ra cây sâm Ngọc Linh đầu tiên vào lúc 9h sáng – đây cũng là loài sâm thứ 20 trên thế giới.
Năm 1985: Tên khoa học Panax vietnamensis Ha & Grushv. được chính thức công bố và công nhận vào năm 1985 tại Viện Thực vật Kamarov (Liên Xô cũ) bởi Hà Thị Dụng và I. V. Grushvistky.
Năm 2013: Phan Kế Long & cộng sự đã ghi nhận phân bố của thứ P. vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai vốn được phát hiện trước đó ở Vân Nam, Trung Quốc. Thứ này có phân bố tại Mường Tè, Tam Đường và Sìn Hồ tỉnh Lai Châu nên được đặt tên là Sâm Lai Châu
Năm 2014: Nghiên cứu mẫu cây không có cơ quan sinh sản thuộc chi Panax thu thập được ở núi Pu Xai Lai Leng (Kỳ Sơn, Nghệ An).
Năm 2016:Nông Văn Duy & cs (2016) khi nghiên cứu đặc điểm hình thái và chỉ thị phân tử vùng gen ITS1-5.8S-ITS2, 18S rRNA và matK của hai quần thể “Sâm langbiang” phân bố ở cao nguyên Lâm Viên (núi Lang Biang, Lâm Đồng) đã công bố đây là thứ mới của loài Sâm Việt Nam và đặt tên là P. vietnamensis Ha & Grushv. var. langbianensis N.V. Duy. V.T. Tran & L.N. Trieu.
Lần đầu tiên Bộ Khoa học – Công nghệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý sản phẩm sâm củ Ngọc Linh.
Năm 2023: QĐ 611 QĐ/TTg: dùng tên gọi Sâm Việt Nam cho 4 cây sâm là: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv), Sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fiscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai), Sâm Lang Biang (Panax vietnamensis var. langbianensis N.V.Duy, V.T.Tran&L.N.Trieu) và Sâm Puxailaileng (Panax sp).
Năm 2026: Sâm Puxailaileng (Nghệ An) và Sâm Hà Giang từng được kỳ vọng là những loài sâm mới hoặc thuộc nhóm Sâm Ngọc Linh. Tuy nhiên, kết quả giải trình tự gen khẳng định cả hai loại này thực chất là loài Panax stipuleanatus (Tam thất hoang).
Nghiên cứu:
Giai đoạn từ 1978-1992:
Những kết quả nghiên cứu trong giai đoạn này không được phép công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước (theo yêu cầu của cơ quan chủ quản là Bộ Y tế), được lưu giữ dưới dạng tài liệu mật và chỉ được thể hiện trong các báo cáo nghiệm thu qua từng giai đoạn
Giai đoạn từ 1993 đến 2012:
Những công trình nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu được thực hiện qua các hợp tác quốc tế với Ba Lan, Nhật Bản, Pháp,…và định hướng vào tác dụng của Sâm Ngọc Linh trên những bệnh lý phổ biến trong thời đại hiện nay như: Trầm cảm, stress, suy giảm miễn dịch, lão hoá, tổn thương gan do stress oxy hóa, ung thư. Đối tượng nghiên cứu chính trong giai đoạn này gồm cả phần trên mặt đất (lá và cọng thân) và phần dưới mặt đất (thân rễ và rễ củ).
Song song với những nghiên cứu trên, những nghiên cứu về cơ chế tác dụng và xác định hoạt chất quyết định tác dụng của Sâm Ngọc Linh cũng được thực hiện. Việc xác định vai trò của majonosid- R2 trong tác dụng dược lý của Sâm Ngọc Linh là một trong những mục tiêu nghiên cứu được quan tâm xuyên suốt trong các nghiên cứu của giai đoạn này bởi vì đây là hợp chất mới thuộc nhóm ocotillol saponin, chưa được phân lập trong Nhân sâm và một số loài sâm tiêu biểu của thế giới, hiện diện với hàm lượng rất cao trong Sâm Ngọc Linh và chưa có các công bố về hoạt tính sinh học hay tác dụng dược lý.
Giai đoạn từ 2013 đến nay:
Tiếp tục các nghiên cứu tác dụng sinh học của Thân rễ và rễ củ trồng và thân rễ và rễ củ chế biến.
Tài liệu tham khảo:
- Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư – Nam dược thần hiệu: Y sư Tuệ Tĩnh.
- Đại Nam Thái y viện Ngự Y và danh dược tiến vua: Hội Đông Y thành phố Huế – NGƯT.ThS.Phan Tấn Tô
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái các loài thuộc chi Nhân sâm –Panax L. (Araliaceae) ở Việt Nam: Phạm Thị Ngọc, Phạm Thanh Huyền*, Nguyễn Quỳnh Nga, Phan Văn Trưởng, Nguyễn Minh Khởi
- Giá trị dược liệu và công dụng của sâm Ngọc Linh: GS.TS.DS.TTƯT. Trần Công Luận








